Thông tin chung về bệnh
Thông tin trong phần Hỏi & Đáp chỉ mang tính chất tham khảo. Vui lòng kiểm tra tình trạng bệnh kĩ càng với bác sĩ điều trị trực tiếp để biết thêm chi tiết. Website Tiểu đường Việt Thanh không chịu trách nhiệm cho bất cứ trường hợp nào không tìm hiểu kĩ thông tin. Các thông tin tại mục này được đăng tải với mục đích hỗ trợ quá trình điều trị của bệnh nhân. Không dùng để thay thế cho chỉ dẫn của bác sĩ điều trị trực tiếp.

Tiểu đường là tình trạng lượng glucose trong máu (lượng đường trong máu) vượt quá tỷ lệ nhất định.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (1)Không (0)

Một người chẩn đoán mắc bệnh tiểu đường khi được xác nhận là có mức đường huyết cao. Để kiểm tra lượng đường trong máu, những người bị nghi ngờ mắc bệnh tiểu đường sẽ phải tiến hành một thử nghiệm gọi là: “thử nghiệm dung nạp glucose”. Người tiến hành kiểm tra sẽ đưa cho bạn uống 75 gam chất lỏng hòa tan glucose (thêm tải glucose vào cơ thể), để theo dõi những thay đổi lượng đường trong máu, từ đó xác định bệnh tiểu đường. Việc kiểm tra sẽ được đánh giá bởi các tiêu chí. Khi lượng đường máu ở gần ngưỡng giới hạn nguy hiểm thì xét nghiệm được thực hiện hai lần để kiểm tra độ chính xác.

Ngoài chẩn đoán bằng chỉ số đường huyết, nó có thể được chẩn đoán bằng giá trị xét nghiệm HbA1c. HbA1c là giá trị kiểm tra lượng đường máu trung bình trong thời gian 1 – 2 tháng qua kể từ thời điểm kiểm tra. Ngay cả khi lượng đường trong máu ở mức bình thường tại thời điểm kiểm tra, nhưng chỉ số HbA1c cao (lượng đường trong máu đã duy trì tình trạng cao trong vòng 1 – 2 tháng qua) thì có thể đó là dấu hiệu chẩn đoán bệnh tiểu đường.

Tiêu chí đánh giá khi kiểm tra “thử nghiệm dung nạp glucose”:

  • Đáp ứng một trong hai hoặc cả hai trường hợp: lượng đường trong máu khi đói ở mức 126 mg/dL, lượng đường trong máu sau 2 giờ dung nạp glucose ở mức ≥ 200 mg/dL thì sẽ được chẩn đoán mắc bệnh tiểu đường.
  • Lượng đường trong máu khi đói ở mức dưới 110 mg/dL và lượng đường trong máu sau 2 giờ dung nạp glucose ở mức < 140 mg/dL thì được đánh giá là bình thường.
  • Khi không thuộc hai loại trên thì bạn sẽ được chẩn đoán ở giai đoạn tiền tiểu đường, “mức ranh giới”.

 

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (1)Không (0)

Bệnh tiểu đường đang ngày càng gia tăng trên thế giới, đặc biệt là ở khu vực châu Á Thái Bình Dương trong đó có Việt Nam. Theo thống kê của Liên đoàn Y tế thế giới, trong năm 2015 có đến 415 triệu người mắc bệnh đái tháo đường, nhưng nếu tính đến 25 năm sau (tức vào năm 2040), thì con số này sẽ lên đến 642 triệu người (tăng 54%). Tại Việt Nam, theo thống kê của Bộ Y tế năm 2012, cả nước có hơn 5 triệu người mắc bệnh đái tháo đường, con số này vẫn đang tiếp tục gia tăng, và ước đoán là 10 năm sau sẽ ở mức 200%, tức vào khoảng 10 triệu người mắc bệnh. Vậy chúng ta cần phải có những giải pháp để phát hiện bệnh sớm hơn, điều trị hiệu quả và ngăn ngừa các biến chứng.

Hầu hết mọi người cho rằng có thể chữa lành bệnh đái tháo đường, nhưng thực tế thì đây là một căn bệnh không thể điều trị dứt điểm. Người bệnh không chết vì bệnh đái tháo đường mà chết vì biến chứng của nó. Nên tôi hi vọng có thể chia sẻ với các bạn về chế độ ăn uống, vận động cũng như sử dụng thuốc hợp lý, qua đó ngăn chặn và kiểm soát các biến chứng của bệnh.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Bệnh đái tháo đường thuộc nhóm bệnh rối loạn chuyển hóa, được đặc trưng bởi lượng đường trong máu tăng cao hơn mức bình thường. Tình trạng này kéo dài sẽ dẫn đến những biến chứng ở nhiều cơ quan khác như: tim, gây nhồi máu cơ tim; não, gây đột quỵ, tai biến mạch máu não, liệt nửa người; nguy cơ nhiễm trùng làm các vết thương lâu lành, khả năng dẫn đến hoại tử; thận, suy thận mãn tính giai đoạn cuối, phải chạy thận định kỳ; mắt, xuất huyết võng mạc, bong võng mạc và dẫn đến mù lòa.

Hiện nay, Tổ chức Y tế thế giới phân ra 4 loại đái tháo đường: loại 1, loại 2, các thể đặc biệt và đái tháo đường thai kỳ. Đái tháo đường loại 2 chiếm tỉ lệ cao nhất vào khoảng 85-95% các trường hợp, do đó, tôi xin nhấn mạnh đến bệnh đái tháo đường loại 2. Loại bệnh này đã phổ biến ở Mỹ rất nhiều năm, thường không có triệu chứng gì rõ rệt và phát triển thầm lặng trong giai đoạn đầu. Người bệnh chỉ phát hiện tình cờ khi đi khám sức khỏe định kỳ hoặc làm các xét nghiệm tiền phẫu khác (ví dụ: mổ sỏi thận, mổ ruột thừa, mổ u xơ tuyến tiền liệt, ung thư). Khi bệnh đã vào giai đoạn muộn, người bệnh đến khám với những triệu chứng khá rõ rệt như: ăn nhiều, uống nước nhiều, tiểu nhiều và sụt cân nhiều (thường gọi là hội chứng 4 nhiều). Đôi khi bệnh nhân cũng có những triệu chứng như: đi tiểu thấy kiến bu, bất lực trong chuyện phòng the và vết thương lâu lành.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Sinh bệnh học hay còn gọi là các yếu tố nguy cơ của bệnh đái tháo đường có liên quan đến di truyền, các bệnh lý về gen hoặc do môi trường. Tùy theo loại bệnh đái tháo đường mà phân ra các nguyên nhân và yếu tố nguy cơ khác nhau. Ví dụ, bệnh nhân đái tháo đường loại 1 thường xuất hiện ở người trẻ nhiều hơn, do tuyến tụy bị phá hủy dẫn đến thiếu insulin tuyệt đối, phải sử dụng đến insulin ngoại sinh. Khi tuyến tụy bị phá hủy từ 75-80% thì bệnh sẽ xuất hiện trên lâm sàng và người bệnh thường đến bệnh viện với tình trạng cạn kiệt insulin hoàn toàn.

Bình thường, tuyến tụy có chức năng nội tiết và ngoại tiết. Về chức năng nội tiết, tế bào beta tiết ra hoóc-môn gọi là insulin, có tác dụng làm hạ mức đường trong máu xuống, điều hòa và ổn định, để không bị mất cân bằng lượng đường huyết. Ở người bình thường, khi ăn vào, lượng đường trong máu sẽ tăng lên, kích thích tế bào beta sản sinh ra insulin, đưa lượng đường huyết trở về mức bình thường. Khi tụy không tiết ra insulin nữa, sẽ khiến chúng ta mắc bệnh đái tháo đường.

Nếu bệnh nhân bị nhiễm đái tháo đường thể đặc biệt, thì có liên quan đến các bệnh lý về gen, làm giảm chức năng hoạt động của tế bào beta (tế bào tiết ra insulin). Có thể do bệnh nhân tiếp xúc các loại thuốc như thuốc diệt chuột, thuốc corticoid điều trị viêm khớp, hóa chất… hoặc bị nhiễm trùng, nhiễm virus, chấn thương tụy (ung thư tụy, cắt bỏ tụy).

Ở bệnh nhân đái tháo đường loại 2 hay đái tháo đường thai kỳ, các nguyên nhân cũng tương tự nhau: do di truyền (trong gia đình có người thân mắc bệnh); do môi trường, xã hội ngày càng phát triển, khiến chúng ta có một lối sống lười vận động, thường xuyên dùng ôtô/xe máy mà ít khi đi bộ hay đi xe đạp; chế độ ăn nhiều chất béo bão hòa, quá dư thừa năng lượng dẫn đến thừa cân, béo phì.

Tổn thương tuyến tụy là một trong những nguyên nhân gây ra đái tháo đường

 

 

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Đúng vậy. Nên điều trị ngay bệnh tiểu đường nếu được chẩn đoán bệnh mà bạn không xuất hiện các biến chứng. Mục tiêu quan trọng trong điều trị tiểu đường là ngăn ngừa biến chứng và ức chế sự tiến triển của biển chứng.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Bệnh nhân tiểu đường có thể lo lắng rằng bản thân bị tiểu đường thì con cái cũng có nguy cơ tiến triển căn bệnh này. Vậy bệnh tiểu đường có di truyền không? Bệnh tiểu đường di truyền như thế nào? Bị tiểu đường có phải bệnh di truyền từ bố mẹ hay ông bà? Có sự khác nhau về di truyền giữa tiểu đường tuýp 1 và tuýp 2 không? Xem ngay bài viết để tìm hiểu chi tiết!

Bệnh tiểu đường dường như không có sự đặc trưng nhất định về sự di truyền. Tuy nhiên, rõ ràng, một số người sinh ra có nhiều nguy cơ mắc bệnh hơn những người khác. Trước tiên, để biết rằng bệnh tiểu đường có di truyền không, chúng ta cần làm rõ nguyên nhân dẫn đến bệnh tiểu đường.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Người tiểu đường tuýp 2 muốn kiểm soát đường huyết tốt thì cần có sự kết hợp của nhiều phương pháp như sử dụng thuốc, chế độ ăn uống, tập luyện phù hợp. Đây là một quá trình lâu dài và cần sự kiên trì của bệnh nhân, nhiều người thường gặp sai lầm khi dùng các cách hạ đường huyết nhanh, gây đến những hậu quả đáng lo ngại.

1. Sai lầm của người bệnh khi dùng những cách hạ đường huyết nhanh

Để không rơi vào những cái kết đắng do không dùng đúng cách kiểm soát đường huyết, người bệnh nên tránh những sai lầm phổ biến khi áp dụng cách hạ đường huyết nhanh dưới đây:

– Ăn uống kiêng khem quá mức: Một sai lầm lớn khi kiểm soát cân nặng, loại trừ mỡ thừa ở người tiểu đường là cắt giảm hoàn toàn tinh bột ra khỏi chế độ ăn. Khi bạn không tiếp nạp tinh bột, bạn có thể bị thiếu hụt dinh dưỡng và lượng đường nhất định có trong tinh bột nhằm đảm bảo các hoạt động. Nếu bỏ bữa thường xuyên lại càng gây ra nhiều rủi ro vì sẽ khiến gan tăng cường giải phóng glucose vào máu, làm đường huyết tăng cao, đồng thời làm giảm hiệu quả của insulin gây nhiều ảnh hưởng đến kết quả điều trị.

– Tập thể dục quá sức: Nên tập những bài tập phù hợp với tình trạng bệnh của mình, không nên tập các bài tập có cường độ cao và quá sức chịu đựng gây hạ đường huyết. Trong tình trạng đó, người bệnh có thể bị hoa mắt, chóng mặt, đi đứng loạng choạng, ngất xỉu.

Cách hạ đường huyết nhanh 1

Tập thể dục quá sức gây hạ đường huyết

– Sử dụng thuốc không theo chỉ định của bác sĩ: Nhiều người có ý nghĩ rằng tăng liều thuốc là cách hạ đường huyết nhanh chóng. Nhưng không biết rằng, sử dụng quá liều có nguy cơ bị tác dụng phụ như dị ứng thuốc (ngứa da, sưng phù mắt và mặt), tiêu chảy, đầy bụng…

– Uống những loại thuốc không có nguồn gốc: Tin vào những bài thuốc được truyền miệng không rõ nguồn gốc có nghĩa là bạn đang đặt tính mạng treo lơ lửng với các nguy cơ bị suy đa tạng, có thể gây tử vong và nhiều tác dụng phụ ngoài mong muốn.

– Không kiểm tra đường huyết thường xuyên: Không theo dõi đường huyết hàng ngày là sai lầm khiến bạn không biết tình trạng bệnh tiến triển như nào, theo chiều hướng xấu hay tốt khi áp dụng các cách hạ đường huyết nhanh. Vì thế, khi gặp phải các triệu chứng nặng nề, trường hợp phải đi cấp cứu thì bệnh nhân mới nhận ra mình đang kiểm soát đường huyết sai cách.

Vậy có cách nào hạ đường huyết nhanh, mà an toàn, hiệu quả đối với người bệnh tiểu đường?

2. Các cách hạ đường huyết nhanh mà bệnh nhân tiểu đường có thể áp dụng

Ông bà ta thường có câu: “Dục tốc bất đạt” mang ý nghĩa rất sâu sắc trong điều trị bệnh. Dưới đây là các cách hạ đường huyết nhanh đạt hiệu quả mà đem lại sự an toàn cho người bệnh mà có thể áp dụng ngay:

– Chế độ ăn uống lành mạnh

Thay vì ăn kiêng kham khổ hay bỏ bữa để giảm cân, người bệnh nên chia nhỏ bữa ăn thành 5 – 6 bữa mỗi ngày, ngoài bữa chính, ăn thêm các bữa phụ để kiểm soát lượng đường huyết dễ dàng hơn.
Ăn bổ sung các loại gạo lứt, ngũ cốc nguyên vỏ, yến mạch,…vừa có hàm lượng chất xơ cao lại không làm tăng đường huyết sau ăn.

+ Cắt giảm lượng tinh bột thích hợp

Carbohydrate được tìm thấy trong các loại thực phẩm giàu tinh bột, các loại đậu, một số rau củ,…Một chế độ ăn chứa ít tinh bột giúp duy trì lượng đường trong máu ổn định, cắt giảm hợp lý carbohydrate, bổ sung nhiều rau xanh, thịt nạc, các loại hạt là cách hạ đường huyết nhanh chóng.

Cách hạ đường huyết nhanh 2

Cắt giảm lượng tinh bột phù hợp và ăn thêm nhiều rau xanh

+ Phân bổ lượng tinh bột trong ngày

Nếu bạn vẫn chưa quen với chế độ giảm lượng lớn carbohydrate, thì có thể thử cách phân bổ đều chúng trong ngày. Ví dụ nếu ăn hết ngay một quả táo làm gia tăng lượng đường trong máu thì bạn có thể cắt đôi để dùng cho lần tiếp. Cách này giúp lượng đường trong máu ổn định, không tăng đột ngột, đồng thời còn giảm cơn thèm ăn, ít cảm thấy đói.

+ Uống trà không đường

Uống các loại trà đen, trắng và xanh lá cây là cách hạ đường huyết nhanh chóng trong vòng ít nhất 30 phút. Nhưng nên chú ý bạn không nên bỏ đường, hạn chế dùng đường là điều cần thiết với người tiểu đường.

+ Chiết xuất trà xanh

Với những người không quen uống trà, có thể thay thế bằng chiết xuất trà xanh ở dạng viên thuốc, đem lại hiệu quả trong việc giảm lượng đường chưa đầy 1 giờ sau khi sử dụng.

+ Uống nhiều nước mỗi ngày

Sử dụng đồ uống tinh khiết như nước lọc sẽ giúp lượng đường trong máu được hạ xuống, giúp các tế bào dễ dàng loại bỏ đường huyết dư thừa qua nước tiểu mà không gây hại cho cơ thể.

+ Uống rượu vang đỏ

Rượu vang đỏ giúp ngăn chặn sự hấp thu glucose ở ruột, những rượu không phải là phương pháp kiểm soát đường huyết lâu dài bởi có thể làm tăng lượng mỡ ở gan.

Cách hạ đường huyết nhanh 3

Rượu vang đỏ là một lựa chọn giúp hạ đường huyết nhưng không nên sử dụng thường xuyên

+ Hạt Methi (cỏ cà ri hoặc khổ đậu)

Chiết xuất từ hạt Methi thường được dùng cho người mới sinh trong quá trình sản xuất sữa mẹ, hạt có tác dụng làm chậm sự hấp thu đường vào máu. Tuy nhiên, không nên lạm dụng quá nhiều loại hạt này.

– Luyện tập thể dục nhẹ nhàng

Chọn những bài tập nhẹ nhàng phù hợp với tình trạng bệnh của từng người. Người tiểu đường có thể lựa chọn những bài tập như đi bộ, đạp xe, bơi lội, yoga,…Đây là một trong những yếu tố quan trọng giúp cải thiện mức độ nhạy cảm của cơ thể với insulin và hạ đường huyết máu.

Một người có thể hạ thấp 40mg lượng đường trong máu khi đi bộ tầm 20 phút.

Cách hạ đường huyết nhanh 4Lựa chọn bài tập thể thao phù hợp với người tiểu đường

– Kiểm soát đường huyết

Nên thường xuyên kiểm tra đường huyết và ghi chép thành nhật ký theo dõi bệnh. Thói quen này vừa giúp bác sĩ có con số cụ thể để biết tình trạng bệnh của bạn, vừa giúp bạn điều chỉnh chế độ ăn uống, tập luyện.

– Thư giãn tinh thần, kiểm soát căng thẳng

Khi người bệnh rơi vào tình trạng căng thẳng, cơ thể sẽ tiết ra một loại hormone như glucagon và cortisol làm tăng đường huyết và giảm bài tiết insulin. Hãy thư giãn bằng tập yoga hoặc các hoạt động ưa thích.

– Ngủ 8 tiếng một ngày

Thói quen ngủ muộn và không đủ giấc không gây trực tiếp làm tăng lượng đường trong máu nhưng ảnh hưởng đến quá trình bài tiết insulin sau bữa ăn và làm giảm độ nhạy của cơ thể với loại hormone này. Khi thiếu ngủ, bệnh nhân sẽ ăn nhiều hơn và đối mặt với tình trạng tăng cân khó kiểm soát.

Cách hạ đường huyết nhanh 5Người bệnh nên ngủ đủ giấc

– Khám bệnh định kỳ và trao đổi thường xuyên với bác sĩ

Người bệnh nên trao đổi với bác sĩ các dấu hiệu bất thường mà dạo gần đây hay gặp phải, thông tin bệnh lý, các phương pháp điều trị đang thực hiện. Để bác sĩ có thể nắm rõ tình hình và đưa ra kết luận về sự ảnh hưởng từ các cách hạ đường huyết nhanh tới sức khỏe của bạn và có sự điều chỉnh kịp thời trước khi hậu quả xảy ra.

Tất cả những phương pháp được liệt kê trên đều giúp người bệnh tiểu đường có thể ổn định đường huyết một cách chắc chắn, hiệu quả và an toàn cho sức khỏe. Bệnh nhân không cần phải tìm một cách hạ đường huyết nhanh nhất bởi đó có thể là cách điều trị không an toàn và có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm đến tính mạng.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Insulin là một hormon được tiết ra từ tuyến tụy. Insulin có hiệu quả giúp toàn bộ tế bào cơ thể hấp thu glucose (đường huyết) và sử dụng đường này như năng lượng cho mọi hoạt động của cơ thể. Khi insulin hoạt động không hiệu quả, đường không được đưa vào tế bào. Kết quả là, lượng đường trong máu sẽ dư thừa và gây tăng đường huyết.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Có hai lý do. Một là chức năng tiết insulin của tuyến tụy suy giảm và lượng insulin trong máu giảm. Một lý do nữa là độ nhạy của các tế bào đối với insulin giảm. Sự giảm độ nhạy của tế bào với insulin được gọi là “tính kháng insulin”. Trong tình trạng kháng insulin, mặc dù lượng insulin tiết đủ nhưng vẫn gây tăng đường huyết.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Bệnh tiểu đường tuýp 2 là bệnh do các yếu tố di truyền như sự tiết insulin bị giảm hoặc thể trạng có tính kháng insulin. Mặc dù được di truyền thể trạng như vậy nhưng xác suất khởi phát bệnh có thể được giữ ở mức thấp nếu ảnh hưởng đến cơ thể do lối sống là nhỏ. Ngược lại, khi không có nền tảng di truyền thể trạng như vậy, nếu bệnh tiểu đường tuýp 2 không khởi phát dù lối sống bị xáo trộn thì thật tốt.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Để kiểm tra tất cả những người có quan hệ ruột thịt như cha mẹ, ông bà, họ hàng anh chị em ruột, anh em họ có bị bệnh tiểu đường là điều khá khó khăn. Mọi người không chủ động nói về bệnh tật của bản thân và gia đình khi không cần thiêt. Vì vậy dù chưa bao giờ nghe câu chuyện rằng có người trong gia đình bị tiểu đường, cúng không thể đảm bảo không có nền tảng di truyền bệnh. Ngoài ra, ngay cả trong gia đình thực sự không có người bị bệnh tiểu đường, vẫn chưa chắc chắn rằng yếu tố di truyền thể trạng bệnh tiểu đường sẽ di truyền như thế nào. Nếu thế hệ tổ tiên đời trước có người bị tiểu đường thì bệnh cũng có thể xuất hiện ở đời sau và trường hợp ảnh hưởng của lối sống đến cơ thể mạnh thì tỷ lệ mắc bệnh cũng tăng cao.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

“Trong trường hợp bệnh tiểu đường tuýp 2, khả năng tiết insulin giảm hoặc kháng insulin, vì vậy không thể nói rằng mức đường trong máu không thể được giữ trong phạm vi bình thường. Tiết insulin không bao giờ dừng lại. Như đã đề cập trong Q.22, nguyên nhân của sự khởi đầu không chỉ là hiến pháp di truyền mà còn là mối quan hệ giữa tuổi già và lối sống lâu dài có liên quan rất lớn. Bởi vì điều này, bệnh tiểu đường tuýp 2 phát triển thường xuyên hơn ở người cao tuổi từ trung niên trở lên và từ 40 tuổi trở lên.

Cách điều trị cơ bản là liệu pháp ăn uống hoặc liệu pháp tập thể dục, làm giảm lượng insulin cần thiết và tăng độ nhạy insulin (hủy bỏ kháng insulin). Nếu điều trị bằng chế độ ăn uống và liệu pháp tập thể dục một mình không làm giảm lượng đường trong máu đủ, điều trị bằng thuốc sẽ được bổ sung. Ngoài ra, gần 80% người mắc bệnh tiểu đường tuýp 2 là những người hiện đang bị béo phì hoặc đã có một thời kỳ bị béo phì trong quá khứ. Như một điều kiện tiên quyết cho điều trị, nó là điều cần thiết để tuýp bỏ bệnh béo phì và duy trì trọng lượng thích hợp.

Trong bệnh tiểu đường tuýp 2, bài tiết insulin được giữ ở một mức độ nhất định, vì vậy không có nhiều đường trong máu cao không phải là quá nhiều. Mặt khác, rất khó cho các triệu chứng chủ quan xuất hiện quá nhiều, rất khó để nhận ra rằng bạn bị bệnh. Vì lý do này, không có nhiều người không nhận thấy rằng họ bị tiểu đường và không điều trị đúng cách ngay cả khi họ biết. Tuy nhiên, để phòng ngừa các biến chứng, điều quan trọng là tiếp tục điều trị bất kể triệu chứng chủ quan.”

 

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (1)Không (0)

Đường trong nước tiểu được bài tiết khi lượng đường trong máu vượt quá 160~180 mg/dL (chỉ số này sẽ khác nhau tùy từng người). Như đã giải thích trong Q.9, tình trạng với lượng đường trong máu khi đói ≥126 mg/dL là mức đường huyết xác định chẩn đoán bệnh tiểu đường. Điều này có nghĩa là đường có thể không được bài tiết trong nước tiểu ngay cả khi ở mức đường huyết xác định bệnh tiểu đường. Vì vậy, suy nghĩ “nếu đường không xuất hiện trong nước tiểu nghĩa là đã chữa khỏi bệnh tiểu đường” là không đúng.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Là một loại bệnh tiểu đường trong đó các tế bào tạo insulin trong tuyến tụy ( tế bào β) bị phá hủy và hầu như không tiết ra insulin. Nguyên nhân khởi phát bệnh không phải chỉ do bệnh tự miễn dịch mà còn có trường hợp không rõ nguyên nhân. Đây là bệnh không liên quan đến lối sống. Ngoài ra, bệnh tiểu đường tuýp 2 là bệnh khởi phát liên quan tương đối mạnh đến các yếu tố di truyền, tuy nhiên trường hợp bệnh tiểu đường tuýp 1 cũng có liên quan đến yếu tố di truyền nhưng không quá mạnh và điển hình. Nếu bệnh tiểu đường tuýp 2 phát triển thường khởi phát ở người trưởng thành thì bệnh tiểu đường tuýp 1 khởi phát phần lớn từ trẻ sơ sinh đến trẻ vị thành niên. Do ngay khi bệnh khởi phát, sự tiết insulin sẽ biến mất nên cần bổ sung insulin bằng cách tiêm từ bên ngoài cơ thể để duy trì tính mạng. Vì vậy liệu pháp insulin là cần thiết đối với bệnh tiểu đường tuýp 1.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Bệnh tiểu đường thai kỳ là tình trạng bất thường chuyển hóa đường xảy ra khi mang thai đối với những phụ nữ chưa từng bị tiểu đường. Trong bệnh tiểu đường này, lượng đường trong máu thai phụ sẽ không tăng quá cao, tuy nhiên dù chỉ tăng đường huyết nhẹ cũng gây ảnh hưởng không tốt đến thai nhi, vì vậy việc kiểm soát đường huyết nghiêm ngặt là cần thiết. Cụ thể, ở phụ nữ bị tiểu đường thai kỳ các hiện tượng dị tật thai nhi, thai nhi phát triển quá mức, trẻ sinh non, thai nhi chết trong tử cung,…có nhiều khả năng xảy ra hơn.

Sau khi sinh, chỉ số đường huyết thường trở lại bình thường, tuy nhiên nhiều trường hợp bệnh tiểu đường khởi phát lại vài năm sau đó, nên cần phải khám sức khỏe thường xuyên.

 

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

“Phân loại tiểu đường tuýp 1 và tuýp 2 là phân loại theo nguyên nhân của bệnh tiểu đường. Để nắm bắt chính xác bệnh tiểu đường, cần phải biết nguyên nhân của bệnh tiểu đường cũng như tình trạng bệnh tiểu đường (mức độ tăng đường huyết) một cách đầy đủ.
Tình trạng sự tiết insulin gần như biến mất, đường huyết tăng cao và cần điều trị bằng liệu pháp insulin để bổ sung insulin từ bên ngoài vào cơ thể được gọi là “”trạng thái phụ thuộc insulin””. Ngược lại, tình trạng vẫn còn sự tiết insulin và có thể duy trì cuộc sống mà không cần điều trị bằng insulin được gọi là “”trạng thái không phụ thuộc insulin””. Trước đây người ta thường gọi tình trạng thứ nhất là IDDM (tiểu đường phụ thuộc insulin) và đôi khi được sử dụng cùng nghĩa với bệnh tiểu đường tuýp 1. Tình trạng thứ hai được gọi là NIDDM (tiểu đường không phụ thuộc insulin), được dùng chủ yếu như một thuật ngữ đề cập đến bệnh tiểu đường tuýp 2. Thật vậy, phần lớn bệnh tiểu đường tuýp 1 là phụ thuộc insulin và bệnh tiểu đường tuýp 2 là không phụ thuộc insulin, tuy nhiên không thể sử dụng cùng một ý nghĩa. Cũng có trường hợp liệu pháp insulin tạm thời không cần thiết ngay cả đối với tuýp 1 và có những trường hợp ngược lại xảy ra với tuýp 2.”

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Sự khác biệt giữa IDDM và NIDDM là liệu liệu pháp insulin có cần thiết để duy trì cuộc sống hay không, thay vì đơn giản là liệu bệnh nhân có đang điều trị bằng insulin hay không. Hầu hết bệnh nhân thuộc tuýp 1 được coi là IDDM. Tuy nhiên, nếu bệnh nhân tuýp 2 đang điều trị bằng liệu pháp insulin để quản lý đường trong máu, trường hợp này tương ứng với NIDDM.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Trạng thái không phụ thuộc Insulin (NIDDM) được chia thành hai loại. Một là tình trạng có thể quản lý lượng đường trong máu nhờ việc điều trị bằng liệu pháp ăn uống, liệu pháp vận động, điều trị bằng thuốc uống (uống thuốc) mà không cần điều trị bằng insulin. Thứ hai là tình trạng không thể quản lý tốt lượng đường trong máu nếu không điều trị bằng liệu pháp insulin dù liệu pháp insulin không thực sự cần thiết để duy trì cuộc sống. Loại thứ hai này dù gọi là trạng thái không phụ thuộc insulin (một tình trạng gọi là NIDDM) nhưng vẫn cần điều trị bằng insulin.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (1)Không (0)

Không phải như vậy. Phân loại tuýp 1 và tuýp 2 là phân loại dựa trên nguyên nhân gây khởi phát bệnh tiểu đường. Vì nguyên nhân của 2 loại là khác nhau nên bệnh tiểu đường tuýp 2 không tiến triển thành bệnh tiểu đường tuýp 1. Tuy nhiên, cũng có loại “bệnh tiểu đường tuýp 1 tiến triển chậm” có thời gian tiến triển như bệnh tiểu đường tuýp 2 sau khi bệnh khởi phát và dần dần tiến triển thành trạng thái phụ thuộc insulin.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (1)Không (0)

Nếu không điều trị tiểu đường thì sẽ xuất hiện nhiều biến chứng. Khi các biến chứng đã tiến triển do không điều trị tiểu đường và đưa ra một vài dấu hiệu, bệnh nhân đến khám bệnh nhưng đã quá muộn, thường có nhiều trường hợp đáng tiếc dẫn đến người bệnh khuyết tật nặng, gặp trở ngại trong sinh hoạt. Khi được chẩn đoán tiểu đường, có vẻ như bệnh nhân đều cảm thấy đó là một cuộc điều trị không dễ dàng, cảm thấy chán nản và không muốn thừa nhận rằng mình mắc bệnh. Nhưng tại sao bạn không nghĩ tích cực hơn rằng: “Tôi cảm thấy may mắn khi bệnh tiểu đường được phát hiện sớm trước khi các biến chứng xảy ra.”

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (1)Không (0)

Bạn cần biết rằng, tiểu đường là bệnh không phù hợp với khái niệm “chữa khỏi”. Lý do là, bạn có thể giảm lượng đường trong máu của mình xuống mức bình thường nếu được điều trị đúng cách, tuy nhiên nếu ngừng điều trị, lượng đường máu dễ dàng bị cao trở lại.
Người ta không gọi bệnh tiểu đường là “bệnh có thể phục hồi” hoặc “bệnh không thể phục hồi”. Nếu bạn tiếp tục điều trị tiểu đường và kiểm soát lượng đường trong máu với phạm vi mục tiêu, ổn định thì bệnh nhân tiểu đường có thể ở tình trạng tương tự như một người khỏe mạnh trong suốt cuộc đời.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Những biến chứng hầu như không xảy ra nếu kiểm soát chặt chẽ lượng đường trong máu. Một cuộc khảo sát được tiến hành ở cả Nhật Bản và nước ngoài đã chứng thực thông tin trên. DDCT (kiểm tra bệnh tiểu đường và thử nghiệm biến chứng) cho những người mắc bệnh tiểu đường tuýp 1 và nghiên cứu ở Kumamoto cho những người mắc bệnh tiểu đường tuýp 2. Cả hai đều cho kết quả theo chiều hướng tích cực để khuyến khích những bệnh nhân tiếp tục điều trị với bằng chứng rõ ràng là: “Người bệnh sẽ gặp ít biến chứng hơn khi họ tiếp tục kiểm soát chặt chẽ lượng đường trong máu”.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (1)Không (0)

Khi bạn ở tình trạng béo phì hoặc thừa cân, bạn sẽ khó kiểm soát lượng đường trong máu của mình, lượng đường huyết sẽ không giảm nhiều như mục tiêu. Ngoài ra, béo phì và thừa cân cũng có thể gây ra các bệnh về lối sống khác ngoài bệnh tiểu đường, chẳng hạn như tăng huyết áp và tăng lipid máu, và tăng nguy cơ gặp các biến chứng. Khi bệnh nhân tiểu đường bị béo phì/ thừa cân giảm trọng lượng, lượng đường trong máu của họ thường giảm.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Chắc chắn một người đàn ông tốt sẽ có vẻ nhìn phải khỏe mạnh từ cái nhìn đầu tiên. Tuy nhiên, béo phì không phải một tình trạng khỏe mạnh. Con người cần ăn thức ăn để sống và bổ sung năng lượng (calo). Tuy nhiên, tình trạng “béo phì” là tích tụ nhiều năng lượng hơn mức cần thiết trong cơ thể.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Béo phì là tình trạng dư thừa mỡ trong cơ thể, không quan trọng là bạn có đang nặng cân hay không. Tuy nhiên, không thể đo lường chính xác được lượng mỡ trong cơ thể, không thực tế về mặt thời gian hay chi phí, do đó người ta thường chẩn đoán béo phì bằng chỉ số BMI (hay chỉ số khối cơ thể) dựa vào trọng lượng và chiều cao của người đó.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

BMI tính bằng trọng lượng cơ thể (kg) chia cho chiều cao (m) bình phương.
Ví dụ trong trường hợp một người nặng 75kg, cao 170cm thì BMI = 75 : (1,7 x 1,7) = 25,95 làm tròn đến dấu thập phân hai con số gần nhất => BMI của người đó sẽ là 26.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

BMI từ 25 trở lên được đánh giá là béo phì. Người có BMI ≥ 25, tăng nguy cơ gặp các bệnh về lối sống như tăng huyết áp, tăng lipid máu, không chỉ là bệnh tiểu đường.
Người bình thường có BMI từ 18,5 đến dưới 25.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Theo thống kê, BMI ≥ 25 xuất hiện tình trạng tăng huyết áp, và tăng lipid máu, triglyceride cao, HDL cholesterol thấp. BMI ≥ 27 ở người bị tiểu đường. BMI ≥ 28, tăng gấp đôi nguy cơ cholesterol trong máu.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Trọng lượng tiêu chuẩn tương ứng với BMI = 22. Bằng cách bình phương chiều cao (m) nhân với 22, bạn có thể biết được trọng lượng lý tưởng của bạn. Ví dụ, nếu bạn cao 170 cm, tính trọng lượng lý tưởng là 1,7 x 1,7 x 22 = 63,58. Như vậy cân nặng 64 kg là lý tưởng.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Lý tưởng để giảm cân cho đến khi bạn đạt trọng lượng tiêu chuẩn, nhưng sẽ khá khó khăn để giải quyết tình trạng béo phì đã xảy ra trong nhiều năm khi sống không khoa học trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên, không phải việc giảm cân này là không có ý nghĩa, đối với người béo phì giảm một lượng nhỏ cũng mang lại sự tích cực trong sức khỏe. Trừ trường hợp cần giảm cân nhanh chóng để điều trị, mục tiêu giảm 3 -5 phần trăm trọng lượng cơ thể trong khoảng thời gian từ hai đến ba tháng ( nghĩa là một người nặng 80kg thì cần giảm 2 -4 kg), cần có một mục tiêu nhất định để giảm cân dễ dàng hơn. Khi giảm cân cần chú ý tới lượng đường máu và huyết áp.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Khi những người tiểu đường bị thừa cân và béo phì giảm cân, mức đường trong máu sẽ giảm, vì vậy họ đều nghĩ rằng mình đã chữa khỏi bệnh tiểu đường. Ngay sau khi trở lại lối sống trước khi giảm cân, lượng đường trong máu sẽ tăng trở lại. Nếu bạn giảm cân và lượng đường trong máu đã giảm, hãy tiếp tục kiểm soát cân nặng để duy trì trạng thái ổn định này.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Chất béo tích tụ trong mô dưới da được gọi là “mỡ dưới da” và chất béo bao bọc quanh các cơ quan nội tạng trong dạ dày được gọi là “mỡ nội tạng”. Chất béo nội tạng có hại cho cơ thể và liên quan chặt chẽ tới sự khởi phát của các bệnh về lối sống. Hơn nữa, sự tích tụ của mỡ nội tạng khó phát hiện ra, diễn biến âm thầm và nguy hiểm cho sức khỏe.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Cách đo chính xác là thông qua việc chụp CT, nhưng cũng có thể đo vòng eo để đánh giá sơ bộ. Đối với Người Nhật, những người có nguy cơ tích tụ chất béo nội tạng là BMI 25 trở lên, eo 85 cm ở nam giới và 90 cm đối với nữ giới.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Đúng vậy, khi chức năng của tế bào beta của tuyến tụy suy giảm, giảm tiết insulin, khả năng hấp thụ glucose trong máu vào tế bào kém hơn. Năng lượng cần thiết cho cơ thể sẽ được bài tiết dưới dạng đường trong nước tiểu, cơ thể sẽ sử dụng chất béo như một nguồn năng lượng thay vì glucose, vì thế trọng lượng cơ thể bị giảm đột ngột.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Khi bệnh tiểu đường khởi phát và người bệnh đột ngột giảm cân, bệnh nhân không nên kiểm soát bằng giảm cân, thay vào đó bạn phải bắt đầu chữa trị càng sớm càng tốt.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Việc kiểm tra bệnh tiểu đường được chia thành(1) kiểm tra để phát hiện bệnh tiểu đường, (2) kiểm tra để chẩn đoán, (3) kiểm tra xác nhận hiệu quả điều trị, (4) kiểm tra các biến chứng và bệnh đồng khởi phát, (5) kiểm tra chi tiết các nguyên nhân gây tăng đường huyết và các loại bệnh tiểu đường, (6) những kiểm tra bệnh nhân có thể tự thực hiện. Những người bị nghi ngờ có bệnh tiểu đường trong kiểm tra (1) nên tiếp nhận việc kiểm tra (2), nếu được chẩn đoán là bệnh tiểu đường, sẽ bắt đầu tiến hành điều trị, kiểm tra (3) và (4) sẽ giúp xác nhận hiệu quả điều trị và việc bệnh nhân có biến chứng không để tiếp tục điều trị, trong khoảng thời gian này, bệnh nhân sẽ thực hiện các kiểm tra (5) và (6) để có thể điều chỉnh việc điều trị phù hợp.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Bởi vì bệnh tiểu đường có ít triệu chứng cơ năng nên đây là một căn bệnh thường được phát hiện khi bệnh nhân khám bệnh tại nơi sinh sống và tại nơi làm việc. Nếu lượng đường trong máu cao khi xét nghiệm máu và khi kiểm tra nước tiểu có kết quả dương tính về lượng đường trong nước tiểu (trong nước tiểu có đường) thì có thể nghi ngờ đó là bệnh tiểu đường, do đó cần có kiểm tra thứ cấp (kiểm tra chi tiết).

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Trong xét nghiệm máu, thông thường sẽ lấy máu trong tình trạng đói, chỉ số đường huyết dưới 110 mg/dL là mức tiêu chuẩn bình thường không phải bệnh tiểu đường. Tuy nhiên nếu chỉ số đường huyết là ≥110 mg/dL, khả năng có thể nghi ngờ bị bệnh tiểu đường, nếu chỉ số này ≥126 mg/dL khả năng bị bệnh tiểu đường khá cao.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Trường hợp nghi ngờ bệnh tiểu đường, thực hiện “thử nghiệm dung nạp glucose đường uống” để chẩn đoán bệnh. Tuy nhiên, trong trường hợp chắc chắn là bệnh tiểu đường như khi chỉ số đường huyết rất cao, hoặc phát hiện biến chứng vốn có của bệnh tiểu đường, điều trị có thể được tiến hành ngày mà không cần kiểm tra thêm.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

“Xác nhận hiệu quả điều trị” của bệnh tiểu đường là để kiểm tra “trong thời gian điều trị, lượng đường trong máu có được kiểm soát gần với giá trị bình thường không”. Các kiểm tra sau đây được sử dụng để xác nhận hiệu quả điều trị. Ngoài kiểm tra đường trong nước tiểu, tất cả đều là xét nghiệm máu.

Mục kiểm tra                       Điều cần biết từ kết quả kiểm tra

Đường huyết                      Chỉ số đường huyết tại thời điểm kiểm tra

Đường trong nước tiểu      Tiêu chuẩn chung về tăng đường huyết sau khi đi vệ sinh lần cuối

HbA1c                                Tình trạng kiểm soát đường huyết trong 1~2 tháng qua

1,5-AG                                Tình trạng kiểm soát đường huyết trong vài ngày qua

Glycoalbumin                     Tình trạng kiểm soát đường huyết trong 2 tuần~1 tháng qua

Fructosamine                     Tình trạng kiểm soát đường huyết trong 2 tuần~1 tháng qua

 

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Sự khác biệt lớn nhất là bệnh nhân có thể biết được tình trạng kiểm soát đường huyết trong bao lâu. Kiểm tra HbA1c có thể giúp bệnh nhân nắm bắt tình trạng kiểm soát đường huyết trong thời gian dài nhất, tiếp theo lần lượt giảm dần là kiểm tra glycoalbumin (fructosamine), 1,5-AG, đường trong nước tiểu, chỉ số đường huyết là giá trị tức thời tại thời điểm kiểm tra.
Trong số các kiểm tra này, kiểm tra đường trong nước tiểu có thể dễ thực hiện mà không cần lấy máu, nhưng bệnh nhân chỉ có thể phán đoán được lượng đường trong máu cao hay không cao. Bên cạnh đó, 1,5-AG phản ứng tương đối nhạy khi chỉ số đường huyết cao nhẹ, rất phù hợp để nhận biết trường hợp những người có chỉ số đường huyết cao sau khi ăn mà không dễ thấy.
Mặt khác, nếu xem xét lần tần số đến viện của bệnh nhân, kiểm tra HbA1c giúp bệnh nhân biết được tình trạng kiểm soát đường huyết trong một thời gian dài khoảng 1~2 tháng qua, trong kiểm tra 1,5-AG chỉ cho biết tình trạng kiểm soát của một vài ngày, nếu bệnh nhân chỉ đến viện 1 lần trong 1 tháng, thời gian quá dài và kết quả kiểm tra có thể không chính xác. Tuy nhiên, để bệnh nhân có thể nhận biết được những thay đổi và ảnh hưởng tại những thời điểm như ngay sau khi bắt đầu điều trị tiểu đường, ngay sau khi thay đổi loại và số lượng thuốc, ngay sau khi thay đổi mô hình và môi trường sống, các loại kiểm tra như 1,5-AG và glycoalbumin có hiệu quả tốt.
Bệnh nhân nên tự xem xét các vấn đề của bản thân và thực hiện loại kiểm tra phù hợp nhất. Nhìn chung, kiểm tra HbA1c thường được thực hiện hơn.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

HbA1c còn được đọc là Hemoglobin A1C (hoặc HBA). Đôi khi còn được gọi là GHb (glycohemoglobin). HbA1c là chỉ số kiểm tra lượng hemoglobin, Hb (hemoglobin) chứa trong hồng cầu được liên kết với glucose. Hb (hemoglobin) là thành phần chính của tế bào hồng cầu trong máu, đóng vai trò vận chuyển oxy đi khắp cơ thể qua dòng máu. Hemoglobin có đặc tính là dễ dàng ràng buộc với glucose (đường trong máu), hiện tương này gọi là “glycosyl hóa”. Nếu tình trạng của lượng đường trong máu cao, tỷ lệ hemoglobin glycated trên toàn bộ Hemoglobin (Hb) cao, tức là giá trị của chỉ số HbA1c cao. Xét nghiệm HbA1c được sử dụng để đánh giá tình hình điều trị của bệnh tiểu đường thông qua hiện tượng này.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

HbA1c còn được đọc là Hemoglobin A1C (hoặc HBA). Đôi khi còn được gọi là GHb (glycohemoglobin). HbA1c là chỉ số kiểm tra lượng hemoglobin, Hb (hemoglobin) chứa trong hồng cầu được liên kết với glucose. Hb (hemoglobin) là thành phần chính của tế bào hồng cầu trong máu, đóng vai trò vận chuyển oxy đi khắp cơ thể qua dòng máu. Hemoglobin có đặc tính là dễ dàng ràng buộc với glucose (đường trong máu), hiện tương này gọi là “glycosyl hóa”. Nếu tình trạng của lượng đường trong máu cao, tỷ lệ hemoglobin glycated trên toàn bộ Hemoglobin (Hb) cao, tức là giá trị của chỉ số HbA1c cao. Xét nghiệm HbA1c được sử dụng để đánh giá tình hình điều trị của bệnh tiểu đường thông qua hiện tượng này.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Giá trị tham chiếu của HbA1c là 4,6 đến 6,2% (giá trị NGSP).
Ký hiệu giá trị JDS được sử dụng trước đó là 4,3 đến 5,8%.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Hemoglobin bị glycosyl hóa không xảy ra ngay lập tức khi các tế bào hồng cầu được hình thành, phải mất một thời gian sau đó. Bên cạnh đó glycated hemoglobin cũng không ngay lập tức bị loại bỏ khi kiểm soát đường huyết tốt hơn, nó sẽ tiếp tục tồn tại trong máu tới khi các tế bào hồng cầu kiệt sức (tuổi thọ tế bào hồng cầu thường từ khoảng 60 đến 120 ngày). Do đó, khi thay đổi kiểm soát trong một thời gian ngắn trước khi kiểm tra, sự thay đổi sẽ không được phản ánh nhiều trong giá trị HbA1c. Những thay đổi trong giá trị HbA1c sẽ được xác nhận chính xác trong đợt kiểm tra tiếp theo.

Bên cạnh đó, nếu tuổi thọ của tế bào hồng cầu ngắn hơn bình thường, tỷ lệ các tế bào hồng cầu bị đường hóa sẽ thấp hơn do tế bào hồng cầu mới tăng, do đó,giá trị của HbA1c thấp hơn so với tình trạng lượng đường trong máu thực sự. Những trường hợp cụ thể có thể xảy ra bao gồm thiếu máu, chảy máu, kỳ thuật thẩm tách trong chạy thận nhân tạo, xơ gan, mang thai,…Ngược lại trong suy thận (uremia),…giá trị HbA1c có thể cao hơn so với tình trạng đường huyết thực tế

 

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

1,5-AG là một thành phần rất giống với glucose có chứa trong thực phẩm. 1,5-AG gần như không có chức năng như một chất dinh dưỡng, nhưng giống với glucose, chất này luôn tồn tại trong máu với một lượng nhất định.
Khi lượng đường trong máu cao, lượng đường huyết dư thừa (glucose trong máu) ở thận được bài tiết trong nước tiểu, vì vậy có đường xuất hiện trong nước tiểu. Đồng thời lúc đó 1,5-AG- một chất rất giống với glucose cũng được bài tiết qua nước tiểu. Do đó, 1,5-AG trong máu giảm dần mỗi khi đường xuất hiện trong nước tiểu. Kiểm tra 1,5-AG là nhằm đánh giá tình hình điều trị bệnh tiểu đường bằng cách tận dụng tính chất của 1,5-AG và kiểm tra nồng độ 1,5-AG trong máu.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Giá trị của 1,5-AG giảm cùng với sự bài tiết của đường trong nước tiểu. Tuy nhiên, khi chỉ số đường huyết tăng cao sau khi ăn và đường xuất hiện trong nước tiểu, giá trị kiểm tra 1,5-AG không giảm xuống ngay mà được phản ánh trong kết quả kiểm tra phần được bài tiết trong vài ngày qua trên tổng số. Nói cách khác, kiểm tra 1,5-AG, bạn sẽ cho thấy tình trạng kiểm soát đường huyết của vài ngày trở lại từ thời điểm kiểm tra. Kết quả kiểm tra biểu thị nồng độ 1,5-AG trong máu và đơn vị là “μg/mL”.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Giá trị tiêu chuẩn là ≥14,0 μg/mL, khi việc kiểm soát lượng đường trong máu không tốt và lượng đường được bài tiết nhiều trong nước tiểu thì giá trị 1,5-AG càng thấp. Tuy nhiên, đối với những người bị glucose niệu do bệnh thận, giá trị kiểm tra này sẽ thấp ngay cả khi không phải là bệnh tiểu đường. Bên cạnh đó, giá trị 1,5-AG có thể giảm trong trường hợp suy thận hoặc mang thai, hoặc sử dụng thuốc điều trị tiểu đường acarbose (một loại chất ức chế α-glucosidase giúp cải thiện tăng đường huyết sau bữa ăn, tên sản phẩm: glucobay).

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

“Glyco” của glycoalbumin giống như “glyco” của glycohemoglobin (cùng nghĩa là GHb.HbA1C) và nó biểu thị sự “glycosyl hóa”. Albumin là một loại protein (albumin là protein có nhiều trong máu). Vì vậy, glycoalbumin có nghĩa là albumin trong máu được glycosyl hóa. Nếu tình trạng lượng đường trong máu cao tiếp tục tiếp diễn, glycosyl hóa của albumin cũng sẽ tiến triển giống như hemoglobin. Kiểm tra glycoalbumin là để đánh giá tình hình điều trị bệnh tiểu đường bằng cách kiểm tra có bao nhiêu albumin được glycosyl hóa.

 

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Chu kỳ bán rã của albumin là 2 tuần hoặc lâu hơn, do đó bệnh nhân có thể biết được tình trạng kiểm soát đường huyết trong khoảng 2 tuần~1 tháng kể từ thời điểm kiểm tra. Kết quả kiểm tra biểu thị bằng tỷ lệ albumin được glycosyl hóa trên toàn bộ albumin trong máu, nên đơn vị là “%”.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Giá trị tiêu chuẩn là khoảng 11~16%. Nếu việc kiểm soát lượng đường trong máu không tốt, giá trị này sẽ cao hơn. Tuy nhiên, nếu albumin có chu kỳ bán rã ngắn (do hội chứng thận hư hoặc bệnh cường giáp), albumin sẽ được tái sinh trước khi nó được glycosyl hóa, vì vậy giá trị kiểm tra glycoalbumin sẽ thấp hơn. Ngược lại, các tình trạng như viêm gan, xơ gan, suy giáp,…có thể làm giảm albumin mới, do đó giá trị kiểm tra sẽ cao hơn.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Fructosamine là một chất được sản xuất bằng cách glycosyl hóa các protein trong máu bằng đường huyết (glucose). Tất nhiên, albumin đã được glycosyl hóa (glycoalbumin) cũng bao gồm trong đó. Khi tình trạng của lượng đường trong máu cao liên tục kéo dài, quá trình glycosyl hóa protein tiến triển, do đó có thể xác định tình trạng điều trị bệnh tiểu đường bằng cách kiểm tra lượng protein đã glycosyl hóa.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Giống với glycoalbumin, bệnh nhân có thể biết được tình trạng kiểm soát đường huyết từ khoảng 2 tuần~1 tháng kể từ thời điểm kiểm tra. Kết quả kiểm tra cho thấy nồng độ lượng fructosamine trong máu và đơn vị là “μmol/L”.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Giá trị tiêu chuẩn là khoảng 210~290 μmol/L. Nếu việc kiểm soát lượng đường trong máu không tốt, giá trị sẽ cao hơn. Tuy nhiên, giống như glycoalbumin, nếu tuổi thọ của protein biến đổi, kết quả kiểm tra cũng sẽ bị ảnh hưởng. Ngoài ra, khi lượng protein trong máu thấp (giảm protein huyết), lượng fructosamine sẽ ít đi, do đó kết quả kiểm tra thấp hơn so với tình trạng kiểm soát đường huyết thực tế. Tình trạng giảm protein huyết ngoài xảy ra ở những người bị các bệnh như thận và gan, còn phổ biến ở trẻ em và phụ nữ mang thai.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Thể Ketone là những chất được tạo ra bằng cách biến đổi chất béo trong cơ thể và được sử dụng làm nguồn năng lượng. Thể ketone cũng tồn tại trong máu của những người khỏe mạnh, nhưng số lượng không quá nhiều. Tuy nhiên, khi hiệu quả của insulin không tốt ở những người bị bệnh tiểu đường, đường hấp thụ vào cơ thể sẽ không được chuyển hóa thành năng lượng, tăng tỷ lệ chất béo được sử dụng thay thế nguồn năng lượng, do đó thể ketone cũng sẽ tăng lên. Tình trạng số lượng thể ketone trong máu tăng lên được gọi là “ketosis”. Vì thể ketone có tính axit nên khi số lượng thể ketone tăng lên, máu trở nên có tính axit (máu vốn có tính kiềm yếu). Trạng thái trong đó máu có tính axit được gọi là “nhiễm toan”, nhưng nếu nguyên nhân là ketosis, nó được gọi là “nhiễm toan ketone”. Trong tình trạng nhiễm toan ketone sẽ xuất hiện các hiện tượng như đau bụng, buồn nôn, thở sâu và nhanh,…sẽ xuất hiện. Bên cạnh đó, bệnh nhân có thể bị suy giảm ý thức, rơi vào tình trạng hôn mê và có thể nguy hiểm đến tinh mạng, đây được cho là biến chứng cấp tính của bệnh tiểu đường cần phải điều trị kịp thời.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Kiểm tra thể keton là cần thiết để chẩn đoán ketosis và nhiễm toan ketone. Để biết chính xác tình trạng bệnh cần đo chỉ số thể ketone có trong máu, nhưng cũng có thể đánh giá bằng kiểm tra liệu thể ketone trong nước tiểu là dương tính hay âm tính. Thông thường, chỉ số thể ketone trong nước tiểu là âm tính. Đối với những người bị tiểu đường phụ thuộc insulin (chủ yếu là tiểu đường tuýp 1), sự tăng thể ketone tỷ lệ với chỉ số đường huyết khi đói tăng cao.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

GOT · GPT (gần đây còn được gọi là AST · ALT) là các enzym có nhiều trong gan. Khi gan bị quá tải và các tế bào gan bị phá vỡ, các enzym này sẽ xuất hiện trong máu. Kiểm tra GOT · GPT là kiểm tra số lượng enzym này bằng xét nghiệm máu. Giới hạn trên của giá trị tiêu chuẩn là 40~50 IU/L, và nếu giá trị này cao thì điều đó có nghĩa là rất nhiều tế bào gan đã bị phá hủy trước khi kiểm tra. Ngoài ra, do tế bào gan sẽ tái tạo nhanh chóng dù chúng bị phá hủy, nên giá trị GOT · GPT và tình trạng nghiêm trọng của bệnh gan không nhất thiết tương đương nhau. Mặt khác, nếu chức năng gan suy giảm do xơ gan,…GOT · GPT sẽ giảm xuống. Vì vậy, để biết chính xác mức độ tiến triển của bệnh gan như thế nào, cần thực hiện một cuộc kiểm tra khác.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Có 2 nguyên nhân làm tăng lượng đường trong máu (gây tăng đường huyết) là: (1) lượng insulin tiết ra ít, (2) độ nhạy của tế bào với tác dụng của insulin giảm (tính kháng insulin ). Bằng cách kiểm tra mức độ của từng nguyên nhân (1) và (2), có thể tiến hành điều trị chính xác hơn (như thay đổi thuốc).

Xét nghiệm để kiểm tra nguyên nhân (1) thì ngoài xét nghiệm đo kiểm tra insulin, C-peptide trong máu và C-peptide trong nước tiểu thì còn có thử nghiệm dung nạp glucose, và test dung nạp glucagon. Về nguyên nhân (2), các loại xét nghiệm như test dung nạp insulin, phương pháp kẹp glucose, chỉ số HOMA – 2,…được thực hiện. Trong những năm gần đây, các gen và kháng thể gây tăng đường huyết và bệnh tiểu đường đang trở nên rõ ràng. Đôi khi xét nghiệm các yếu tố này có thể giúp đánh giá loại bệnh tiểu đường.

 

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Insulin được tiết ra từ tuyến tụy và là một loại hoóc-môn duy nhất có tác dụng làm giảm lượng đường trong máu. Bằng cách đo nồng độ insulin trong máu, chúng ta có thể suy ra tình trạng làm việc của tuyến tụy.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Khi insulin được tiết ra, nó được sử dụng trong một thời gian rất ngắn, vì vậy giá trị kiểm tra thay đổi rất nhiều tùy thuộc vào thời điểm đo lường. Đối với những người khỏe mạnh, sau khi ăn uống, nồng độ insulin sẽ sớm tăng lên, nhưng đối với bệnh nhân tiểu đường, nồng độ insulin sẽ mất thời gian khá dài để bắt đầu tăng lên và lượng tăng lên cũng không đủ. Đặc biệt trong trường hợp bệnh tiểu đường tuýp 1 trước khi bắt đầu điều trị, mức insulin lúc đói là thấp và vẫn thấp sau khi ăn. Nếu bệnh nhân bắt đầu điều trị insulin ngay lập tức trong tình trạng như vậy, sau đó nồng độ insulin lên xuống tùy thuộc vào số lượng tiêm insulin (Điều này cũng đúng trong trường hợp bệnh tiểu đường khác ngoài bệnh tiểu đường tuýp 1 đang điều trị bằng insulin).

Do đó nồng độ insulin thường thấp trong bệnh tiểu đường, nhưng nồng độ insulin không quá thấp hoặc khá cao trong bệnh tiểu đường khác ngoài bệnh tiểu đường tuýp 1 (chủ yếu là tuýp 2). Trong trường hợp đó, tình trạng tăng đường huyết là do tính kháng insulin.

Ngoài ra, có thể không đo chính xác được nồng độ insulin ở những người bị kháng insulin, kết quả nhận được sẽ là nồng độ insulin cao (kháng thể insulin, ngoài trường hợp được tạo ra bất thường ở những người đang tiến hành điều trị bằng insulin còn có ở những người không điều trị bằng insulin).

 

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Tiền chất (tiền thân) có thể tạo nên insulin được gọi là “proinsulin”. C-peptide là một phần của proinsulin này. Khi insulin phân tách ra từ proinsulin và được tiết vào trong máu, cùng một lượng C-peptid cũng sẽ đồng thời xuất hiện trong máu. Vì vậy, bằng cách đo nồng độ C-peptide trong máu, mọi người có thể biết được lượng insulin tiết ra.

Tuy nhiên hiện nay, chức năng của chính C-peptide chưa được hiểu rõ. Nhưng người ta cho rằng C-peptide không đóng một vai trò quá lớn.

 

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Việc đo C-peptide trong máu được sử dụng để điều tra chức năng của tuyến tụy của một bệnh nhân có xét nghiệm nồng độ insulin trong máu không hiệu quả như trường hợp bệnh nhân đang điều trị bằng insulin. Ngoài ra, không giống như insulin, C-peptide không được sử dụng trong gan nên nó ở lại trong máu trong một thời gian dài (chu kỳ bán rã của insulin là khoảng 4 phút, trong khi đó của C-peptide là khoảng 30 phút). Do đó, đây cũng là một khía cạnh thuận lợi để kiểm tra khả năng tiết insulin của tuyến tụy so với việc đo nồng độ insulin trong máu thay đổi về số lượng trong một thời gian ngắn.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

C-peptide, không giống như insulin, được bài tiết lẫn trong nước tiểu mà không được sử dụng trong cơ thể. Vì vậy, cũng có thể đo lượng C-peptide trong xét nghiệm nước tiểu. Trong xét nghiệm nước tiểu, nước tiểu được tích trữ trong một thời gian nhất định (chủ yếu là 24 giờ) và đo lượng C-peptide chứa trong nước tiểu này.

Do xét nghiệm C- peptide trong máu có thể cho thấy nồng độ của C-peptide tại thời điểm lấy máu nên từ đó có thể kiểm tra sự chênh lệch trước và sau bữa ăn, biết được phản ứng của việc tiết insulin, tuy nhiên lại không biết được tổng lượng C-peptide (được cho là gần giống như tổng lượng insulin được tiết ra). Mặt khác, xét nghiệm C- peptide trong nước tiểu không thể cho thấy sự thay đổi theo thời gian của lượng insulin tiết ra, nhưng có thể ước tính được bao nhiêu lượng insulin được tiết ra trong 1 ngày.

Trường hợp bị bệnh thận, C-peptide trong máu có thể cao hơn, C-peptidetrong nước tiểu có thể thấp hơn.

 

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Thử nghiệm dung nạp glucose đường uống là một trong những xét nghiệm để chẩn đoán bệnh tiểu đường. Thử nghiệm được tiến hành bằng cách cho người được kiểm tra hấp thụ dung dịch chứa 75 g glucose và sau đó đánh giá xem người đó có bị bệnh tiểu đường hay không dựa trên sự thay đổi giá trị glucose trong máu sau đó. Đồng thời, khi đo nồng độ insulin (hoặc C-peptide) trong máu, có thể biết được tuyến tụy có khả năng bài tiết insulin không.

Trong trường hợp này, phép tính sau đây được thực hiện bằng cách chia sự khác biệt giữa nồng độ insulin trong máu trước khi uống glucose và nồng độ insulin trong máu 30 phút sau khi uống glucose với sự khác biệt về biến động chỉ số đường huyết xảy ra trong cùng một thời điểm. Người ta đánh giá rằng kết quả phép tính này càng thấp thì khả năng tiết insulin và khả năng phản ứng của insulin càng suy giảm. Đây được gọi là chỉ số tiết insulin (Insulinogenic Index: I I) và trong bệnh tiểu đường, giá trị này thường thấp dưới 0,4.

I I = Δ I R I (30 ‘- 0’) U / mL / PG (30 ‘- 0’) mg / dL

 

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Glucagon là một loại hormone được tiết ra từ các tế bào alpha tuyến tụy, có tác dụng phá vỡ glycogen trong gan để tăng mức đường huyết và kích thích bài tiết insulin. Test dung nạp glucagon là để kiểm tra khả năng bài tiết insulin của tuyến tụy dựa trên mức đường huyết và nồng độ insulin trong máu (hoặc C-peptide) sau khi tiêm glucagon. Test dung nạp glucagon tương tự như xét nghiệm dung nạp glucose, nhưng glucagon kích thích trực tiếp các tế bào beta trong tuyến tụy để thúc đẩy bài tiết insulin, vì vậy đây là một thử nghiệm tốt để nhằm mục tiêu tăng khả năng tiết insulin.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Đây là một phương pháp để điều tra mức độ tính kháng insulin. Sau khi tiêm insulin từ tĩnh mạch, hãy đo mức đường huyết cứ sau vài phút. Nếu không có tính kháng insulin, nồng độ glucose trong máu sẽ giảm do tác dụng của insulin được tiêm, nhưng nếu có tính kháng insulin thì tốc độ giảm của chỉ số đường huyết sẽ chậm.

 

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Đây cũng là một phương pháp để kiểm tra mức độ tính kháng insulin. Trong khi tiêm insulin, tiếp tục tiêm glucose cùng một lúc để lượng đường trong máu trở nên không đổi. Nếu lượng glucose cần thiết để duy trì lượng đường trong máu không đổi càng nhiều, độ nhạy insulin tốt (tính kháng insulin thấp), nếu không đủ lượng glucose thì cho thấy độ nhạy insulin thấp (tính kháng insulin cao).

 

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Đây là một chỉ số chỉ ra mức độ kháng insulin thu được theo công thức tính toán dưới đây từ chỉ số đường huyết lúc đói và nồng độ insulin. Việc tính toán chỉ số này thường được sử dụng như một phương pháp để xác định tình trạng tính kháng insulin của bệnh nhân tiểu đường mức độ nhẹ có lượng bài tiết insulin được duy trì tương đối tốt. Chỉ số này càng lớn, khả năng tính kháng insulin càng mạnh. Chỉ số bình thường là 2 hoặc ít hơn.

HOMA-R = chỉ số đường huyết lúc đói × nồng độ insulin lúc đói ÷ 405

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Phần lớn bệnh tiểu đường ở Nhật Bản là bệnh tiểu đường tuýp 2. Bệnh tiểu đường tuýp 2 được gọi là “bệnh lối sống”, nhưng dù có cùng lối sống nhưng có người lại không bị bệnh tiểu đường và có người lại bị bệnh tiểu đường, trường hợp này được lý giải là do liên quan đến các vấn đề gen di truyền. Cụ thể, loại gen nào gây ra bệnh tiểu đường thì hiện vẫn chưa rõ ràng. Một số gen được cho là khiến cho bệnh tiểu đường dễ xảy ra gần đây mới bắt đầu được tìm thấy.

Liên quan đến bệnh tiểu đường tuýp 1, nguyên nhân do các yếu tố di truyền đã được cho là ít hơn bệnh tiểu đường tuýp 2, nhưng mối quan hệ gen di truyền cũng được nhìn thấy trong bệnh tiểu đường tuýp 1. Ngoài ra, tại thời điểm khởi phát bệnh, dù được chẩn đoán là bệnh tiểu đường tuýp 2 nhưng cũng có trường hợp khả năng bài tiết insulin suy giảm và bệnh nhân cần phụ thuộc vào insulin hay còn có thể nói rằng bệnh tiểu đường đã trở thành bệnh tiểu đường tuýp 1 tiến triển chậm. Trường hợp này được cho là có liên quan đến sự tồn tại của một số kháng thể, và việc kiểm tra sự có hay không của các kháng thể có thể giúp chẩn đoán đúng loại bệnh tiểu đường.

 

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Bệnh nhân tiểu đường có thể tự đo trọng lượng cơ thể, mỡ cơ thể, đường nước tiểu, protein nước tiểu, thể ketone trong nước tiểu, huyết áp, đường huyết,…tại nhà.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Vì lượng glucose trong máu (đường huyết) rất cần thiết cho cơ thể nên glucose không được bài tiết với số lượng lớn qua nước tiểu. Tuy nhiên, khi lượng đường trong máu tăng cao, chẳng hạn như sau bữa ăn, một lượng đường nhỏ (50 mg/dL trở xuống) ở người bình thường và một lượng đường lớn (100 mg/dL trở lên) ở bệnh nhân tiểu đường sẽ đi qua thận và xuất hiện trong nước tiểu. Đó là đường trong nước tiểu. Từ kết quả kiểm tra đường trong nước tiểu âm tính hay dương tính, trường hợp kết quả dương tính, mọi người có thể nắm bắt được lượng đường trong máu một cách khái quát.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Bệnh nhân có thể dễ dàng đo lượng đường trong nước tiểu bằng cách sử dụng giấy thử. Lấy nước tiểu và cho vào lọ đựng, ngâm giấy thử trong đó sau đó lấy ra ngay lập tức và xem màu sắc của giấy thử dựa theo bảng hướng dẫn đánh giá kết quả kiểm tra. So sánh màu sắc của giấy thử với bảng tông màu và đánh giá xem kết quả là âm tính hay dương tính và mức độ như thế nào trong trường hợp kết quả dương tính.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Cần phải hiểu rõ việc đo lượng đường trong nước tiểu, chẳng hạn như tuân thủ phương pháp đo chính xác và không thể khẳng định rằng bệnh tiểu đường được điều trị tốt do kết quả lượng đường trong nước tiểu là âm tính.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Chỉ số đường huyết mà lượng đường trong nước tiểu trở nên dương tính (100 mg/dL trở lên) trên giấy thử là từ khoảng 170 mg/dL trở lên (Ở người cao tuổi, dù chỉ số đường huyết tăng cao thì lượng đường trong nước tiểu vẫn âm tính). Mặt khác, giá trị tiêu chuẩn để chẩn đoán bệnh tiểu đường khi đói là 126 mg/dL. Nói cách khác, ngay cả khi đó là chỉ số đường huyết được chẩn đoán là bệnh tiểu đường, nó sẽ bị bỏ qua trong việc đo lượng đường trong nước tiểu khi đói.

 

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Đầu tiên nên thực hiện theo phương pháp đã ghi trong sách hướng dẫn. Một số điểm nhầm lẫn phổ biến khi đo lượng đường trong nước tiểu là đổ nước tiểu trực tiếp vào giấy thử, hộp đựng nước tiểu không sạch (hoặc chất tẩy rửa vẫn còn), giấy thử được ngâm lâu mà không lấy ra ngay, thời gian cho đến khi xác nhận màu sắc giấy thử không chính xác.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Tên của bệnh tiểu đường là một cái tên được đặt dựa trên thực tế là nước tiểu có vị ngọt (đường được trộn trong nước tiểu) khi người ta chưa biết rằng bệnh tiểu đường là do tình trạng lượng đường trong máu cao “tăng đường huyết“. Mặt khác, hiện nay người ta biết rằng kết quả kiểm tra lượng đường trong nước tiểu trở nên dương tính là do lượng đường trong máu cao.

Và bệnh tiểu đường là một căn bệnh có các biến chứng đáng sợ. Số liệu thống kê đã chỉ ra rằng các biến chứng tiểu đường xảy ra ở những người có chỉ số đường huyết lúc đói là 126 mg/dL trở lên và lượng đường trong máu sau ăn là 200 mg/dL trở lên. Dựa trên những khảo sát và thống kê đó, hiện nay đã có các tiêu chuẩn chẩn đoán đối với bệnh tiểu đường và sự khác biệt liệu đường có được bài tiết trong nước tiểu hay không cũng có ích cho việc điều trị bệnh tiểu đường, nhưng không hẳn mang ý nghĩa quyết định.

 

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Bệnh nhân chỉ có thể nắm bắt sơ lược được mức độ tăng đường huyết cao mà không nắm rõ được tình trạng tăng đường huyết nhẹ, không thể nắm bắt được tình trạng hạ đường huyết, chỉ biết được thông tin khái quát khi có biến chứng của bệnh thận hoặc rối loạn thần kinh tự trị, lượng đường trong nước tiểu khi uống vitamin C thực tế là dương tính nhưng lại cho kết quả âm tính. Đó là những điểm mà bệnh nhân cần biết khi cố gắng kiểm soát bệnh tiểu đường từ lượng đường trong nước tiểu. Tất nhiên, ngược lại, việc đo lượng đường trong nước tiểu cũng có ưu điểm là có thể đo lường dễ dàng.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Nên đo lượng đường trong nước tiểu ngay sau khi ngủ dậy, các thời điểm đo thích hợp là sau khi ngủ dậy, ba lần trước và hai giờ bữa ăn, trước khi đi ngủ.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Khi bệnh nhân muốn xác nhận xem có phải bị bệnh tiểu đường không hay khi bệnh nhân muốn kiểm soát đường huyết tốt hơn thì sẽ tiến hành đánh giá từ kết quả đo đường trong nước tiểu khoảng 2 giờ sau bữa ăn. Thông thường chỉ số đường huyết sẽ cao nhất trong khoảng thời gian đó, vì vậy nếu kết quả kiểm tra lượng đường trong nước tiểu là âm tính vào thời điểm đó, khả năng mắc bệnh tiểu đường có thể được cho là thấp và dù bị bệnh tiểu đường thì có thể xác định rằng việc kiểm soát đường huyết đã được thực hiện tốt.

Tuy nhiên, khi đo lượng đường trong nước tiểu, người bệnh phải đi vệ sinh ngay trước hoặc ngay sau bữa ăn và làm rỗng bàng quang. Nếu không thực hiện theo như vậy, nước tiểu được tạo ra tại thời điểm khi chỉ số đường huyết trước bữa ăn thấp và nước tiểu được tạo ra tại thời điểm chỉ số đường huyết tăng cao sau bữa ăn sẽ trộn lẫn trong bàng quang, và trên thực tế bệnh nhân có thể không nhận biết rõ được tình trạng tăng đường huyết sau ăn.

 

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Kết quả đo lượng đường trong nước tiểu ngay sau khi ngủ dậy sẽ phản ánh lượng đường trong nước tiểu được tạo ra trong khoảng thời gian ngủ. Nếu đi vệ sinh trước khi đi ngủ và phát hiện có đường trong nước tiểu ngay sau khi ngủ dậy thì có thể dự đoán đường huyết tăng cao về đêm và việc điều trị bệnh tiểu đường chưa được thực hiện tốt.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Protein niệu thường là âm tính. Khi biến chứng bệnh thận tiểu đường tiến triển đến một mức độ nào đó, protein sẽ bị lẫn trong nước tiểu. Đối với các bệnh thận nói chung bao gồm bệnh thận tiểu đường, lượng protein trộn trong nước tiểu là một chỉ số quan trọng để biết tình trạng của bệnh.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Thật không may, không thể phát hiện bệnh thận ở giai đoạn đầu bằng cách đo protein niệu bằng giấy thử. Cần thực hiện một xét nghiệm gọi là xét nghiệm microalbumin niệu để có thể phát hiện một lượng protein rất nhỏ trong nước tiểu.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Bệnh tiểu đường là một căn bệnh với những biến chứng đáng sợ. Phần lớn các biến chứng khởi phát từ tổn thương ở các mạch máu nhỏ (vi mạch). Nguyên nhân lớn nhất gây tổn thương vi mạch ở bệnh nhân tiểu đường là do tình trạng tăng đường huyết, tuy nhiên ảnh hưởng của hiện tượng tăng huyết áp cũng không nhỏ. Duy trì chỉ số đường huyết ở mức bình thường nhất có thể và kiểm soát huyết áp ở mức thấp hơn là chìa khóa để giảm nguy cơ bị biến chứng bệnh tiểu đường.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Vì huyết áp thay đổi liên tục từ thời điểm này đến thời điểm khác nên bệnh nhân tiểu đường có thể thu được nhiều thông tin hơn bằng cách tự đo huyết áp tại nhà thay vì chỉ đo khi đến khám định kỳ tại bệnh viện. Việc tự đo huyết áp sẽ mang lại lợi ích lớn trong việc quản lý huyết áp phù hợp hơn. Ngoài ra, việc tự đo huyết áp sẽ khuyến khích việc điều trị bệnh tiểu đường.

 

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Điều quan trọng là bệnh nhân tiểu đường phải thực hiện đúng phương pháp đo, không nên tự ý tăng lượng thuốc mà không được phép vì đó có thể là nguyên nhân làm tăng huyết áp và ngược lại. Nếu bệnh nhân có lo lắng về việc huyết áp tăng quá cao, hãy tham khảo ý kiến ​​bác sĩ và làm theo hướng dẫn.

 

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Bệnh nhân tiểu đường nên thư giãn, thả lỏng ít nhất 5 phút trước khi đo và ngồi lên ghế để đo. Ngoài ra, hãy chắc chắn đọc kỹ hướng dẫn sử dụng vì bệnh nhân không thể đo đường huyết chính xác nếu cách quấn dây đeo (vị trí, độ lỏng chặt của vòng quấn,…) không đúng. Ngồi yên trong quá trình đo, nếu có thể nên đo ba lần liên tiếp và ghi lại giá trị trung bình thứ hai và thứ ba (vì kết quả đầu tiên thường là kết quả cao hơn).

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Bệnh nhân tiểu đường nên đo tổng cộng 2 lần một ngày, một lần trước khi đi ngủ và một lần trong khoảng thời gian từ lúc đi về sinh sau khi ngủ dậy đến trước khi ăn sáng. Tất nhiên, không giống như đo lượng đường trong nước tiểu và đo đường huyết cần giấy xét nghiệm, huyết áp có thể được đo bất cứ lúc nào, do đó, bệnh nhân có thể đo huyết áp thường xuyên hơn cũng không có vấn đề gì.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Có những thiết bị có thể đo huyết áp bằng cổ tay hoặc đầu ngón tay, nhưng về độ tin cậy, bệnh nhân tiểu đường được khuyên nên chọn thiết bị đo huyết áp trên phần bắp tay. Trên thị trường cũng có những loại máy đo huyết áp có thể in kết quả đo lường hay kết nối với máy tính để quản lý dữ liệu về kết quả đo, tuy nhiên nếu mua loại thiết bị đo huyết áp có nhiều tính năng hiện đại, người dùng sẽ mất nhiều thời gian để có thể làm quen và việc đo có thể không được duy trì. Hãy kiểm tra chức năng và giá cả của các loại thiết bị để chọn loại phù hợp với bản thân.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Trong phòng khám của bệnh viện, vì xung quanh bệnh nhân tiểu đường có rất nhiều các bác sĩ, y tá,…,huyết áp có thể cao hơn huyết áp đo được ở nhà do lo lắng, hiện tượng này được gọi là tăng huyết áp áo choàng trắng. Đặc biệt ở lần khám đầu tiên, huyết áp có xu hướng cao và khi số lần đến bệnh viện nhiều hơn, sự khác biệt so với huyết áp đo tại nhà sẽ nhỏ hơn một chút.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Từ “sick” có nghĩa là ốm, bị bệnh, từ “day” có nghĩa là ngày. Nói cách khác, “sick day” có nghĩa là ngày bị ốm, ngày bị bệnh khác ngoài bệnh tiểu đường.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Những hiện tượng dưới đây có nhiều khả năng xảy ra ở bệnh nhân tiểu đường trong ngày “sick day” nên ngay cả những người có thể kiểm soát mức đường huyết bình thường, trong những ngày này cũng cần biện pháp đối phó thích hợp. Người ta gọi các biện pháp đối phó này là “sick day rule”.

(1) Chỉ số đường huyết trở nên dễ bị xáo trộn (đặc biệt là bệnh nhân có xu hướng bị tăng đường huyết)

(2) Bệnh khác ngoài bệnh tiểu đường thường lâu khỏi hơn

(3) Nguy cơ nhiễm ketoacidosis cao

(4) Hôn mê tăng thẩm thấu

 

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Thường là các bệnh truyền nhiễm như cảm lạnh, cúm, viêm phổi, túi mật, viêm bàng quang, tiêu chảy và nôn mửa. Ngoài ra, cần cẩn thận khi bị thương, bị bỏng, hoặc khi điều trị nha khoa. Việc có thể để vượt qua ngày “sick day” một cách tốt đẹp trong một khoảng thời gian ngắn là một điểm chính ảnh hưởng đến việc điều trị bệnh tiểu đường cũng như phòng ngừa và đối phó với tình trạng hạ đường huyết.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Khi bị tăng đường huyết, sức đề kháng của cơ thể giảm xuống. Do đó, sự phục hồi của bệnh có thể bị trì hoãn hoặc tình trạng nhiễm trùng có thể xảy ra trước khi lành bệnh, và bệnh thường có xu hướng kéo dài lâu khỏi hơn. Ngoài ra, tình trạng mất nước do tăng đường huyết cũng ảnh hưởng làm lượng đường trong máu tăng cao hơn.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Bệnh tiểu đường là một căn bệnh mà “hiệu quả của insulin bị suy giảm và không hiệu quả”. Và hiệu quả của insulin giảm hơn nữa trong ngày bị bệnh khác ngoài bệnh tiểu đường. Nói cách khác, vào ngày “sick day”, mức độ của bệnh tiểu đường tạm thời trở nên nghiêm trong hơn.

Insulin là một hormone thiết yếu giúp chuyển hóa glucose thành năng lượng, do đó, nó sẽ không thể tạo ra năng lượng khi hiệu quả hoạt động thấp hơn bình thường do bị bệnh khác ngoài bệnh tiểu đường. Vì vậy, cơ thể tạo ra năng lượng thiết yếu cho các hoạt động sống chủ yếu bằng cách phân giải chất béo. Khi tạo ra năng lượng từ chất béo, một chất hóa học gọi là thể ketone được tạo ra. Thể ketone dần dần sẽ được bài tiết qua nước tiểu, nhưng nếu số lượng thể ketone tăng quá nhiều, nó sẽ tích tụ trong máu và tình trạng này gọi là ketosis. Vì thể ketone là một chất có tính axit, máu ban đầu có tính kiềm yếu sẽ dần trở nên có tính axit. Tình trạng này được gọi là nhiễm ketoacidosis.

 

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Khi bị tình trạng ketosis sẽ có các triệu chứng như buồn nôn, đau bụng,…,nhưng các triệu chứng này có thể bị nhầm lẫn với các triệu chứng gây ra khi bị bệnh khác ngoài bệnh tiểu đường (sick day) và bệnh nhân có thể không nhận thấy tình trạng ketosis. Khi tình trạng ketosis tiến triển thành nhiễm ketoacidosis, bệnh nhân tiểu đường sẽ trong tình trạng nguy hiểm cần điều trị khẩn cấp như rối loạn ý thức và hôn mê.

Trong tình trạng ketosis và nhiễm ketoacidosis, hơi thở (hơi thở ra) có thể có mùi acetone, mùi giống như trái cây ngay trước khi bị thối hỏng. Acetone là một loại thể ketone, vì nó có tính chất dễ bay hơi nên sẽ lẫn với thở ra và đi ra khỏi cơ thể. Nếu bệnh nhân tiểu đường cảm thấy mùi acetone từ hơi thở ra thì có khả năng bị nhiễm ketoacidosis, vì vậy hãy đi khám và điều trị ngay lập tức.

 

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Những người mắc bệnh tiểu đường tuýp 1 bị mất khả năng tự bài tiết insulin cần chú ý. Những người mắc bệnh tiểu đường tuýp 2 sẽ không bị nhiễm ketoacidosis vì khả năng tự bài tiết insulin không bao giờ mất ngay cả trong ngày bị bệnh khác ngoài bệnh tiểu đường, tuy nhiên bệnh nhân tiểu đường đang điều trị bằng insulin nếu gián đoạn việc tiêm insulin thì tình trạng nhiễm ketoacidosis sẽ có thể xuất hiện.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Tăng đường huyết làm mất lượng nước trong cơ thể, chỉ số đường huyết tăng cao, tình trạng mất nước và tăng đường huyết cũng được tăng tốc, áp suất thẩm thấu máu tăng đáng kể và dẫn đến hôn mê.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Hôn mê tăng thẩm thấu cao thường xảy ra ở người cao tuổi mắc bệnh tiểu đường tuýp 2. Điều này là bởi người cao tuổi thường khó cảm nhận cảm giác khô cổ họng và lượng nước trong cơ thể đang giảm.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)

Có các triệu chứng khát nước vì mất nước, nhưng người cao tuổi thường không nhận ra triệu chứng này.

Thông tin này có hữu ích đối với bạn không? Có (0)Không (0)
Tiểu đường Việt Thanh Tiểu đường Việt Thanh
4.5 out of 5 based on 301 ser ratings.